Lời ngỏ: Dongdoi.com.vn là trang web đang chuẩn bị ra mắt bạn đọc nên chúng tôi rất cần sự quan tâm đóng góp xây dựng của bạn đọc trên cả nước. Các bạn có những thông tin liên quan đến các chuyên mục trên trang web, các bài viết phù hợp với nội dung của trang web xin các bạn hãy nhanh chóng gửi ngay cho dongdoi.com.vn.

Tất cả các ý kiến đóng góp xây dựng của các bạn chúng tôi sẽ hết sức trân trọng và biết ơn.

Bài viết của các bạn xin gửi về hòm thư: btdongdoi@vnn.vn

Rất mong nhận được nhiều thông tin, bài viết và những đóng góp xây dựng của các bạn để dongdoi.com.vn thực sự trở thành người bạn thân thiết của các bạn.

Xin trân trọng cảm ơn!
Giá Vàng
Thời Tiết
Tỷ Giá
Thành viên online
Số truy cập: 179926
 

“Sự thật về Thác Bản Giốc” và nhận thức sai lầm về chủ quyền lịch sử

(GDVN) - Những người vẫn còn đang theo đuổi “chủ quyền lịch sử, quan điểm lịch sử và bằng chứng lịch sử” để chỉ trích Việt Nam bán đất cho TQ ở Thác Bản Giốc, Hữu Nghị Quan hay sông Bắc Luân, thử hỏi họ có thể chấp nhận được quan điểm vô lý của một số người Campuchia như Sam Rainsy khi đòi “chủ quyền” đối với đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu, thậm chí là cả Nam Bộ của Việt Nam hay không? Tôi tin là hoàn toàn không.
Thời gian gần đây một số hãng truyền thông phương Tây và các trang mạng xã hội đăng tải bài viết “Sự thật về Thác Bản Giốc” của ông Mai Thái Lĩnh, trong đó có những nhận định và quy chụp hết sức chủ quan khi cho rằng Việt Nam đã bán đất cho Trung Quốc (TQ) khiến dư luận có nhiều ý kiến khác nhau, trong đó nhiều người vẫn cảm thấy mơ hồ khi nhắc tới địa danh này.

Điều đó một lần nữa cho thấy những bất cập trong nhận thức của không ít người ngay từ các nhà nghiên cứu, trí thức, quản lý cho đến người dân về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, đặc biệt là sự nhầm lẫn, nhận thức sai lầm, mơ hồ về bằng chứng lịch sử, yếu tố lịch sử, tài liệu lịch sử trong văn chương, sách giáo khoa, bản đồ, bưu ảnh...với những chứng cứ lịch sử có giá trị pháp lý trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền.

Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới chính phủ, người trực tiếp tham gia đàm phán hoạch định biên giới Việt Nam - TQ nói chung, khu vực Thác Bản Giốc nói riêng đã chia sẻ với Báo Giáo dục Việt Nam những ý kiến của ông xung quanh vấn đề này.

Tiến sĩ Trần Công Trục.

- PV: Thưa Tiến sĩ Trần Công Trục, gần đây trên một số phương tiện truyền thông nước ngoài và mạng xã hội có đăng tải bài viết “Sự thật về thác Bản Giốc” của ông Mai Thái Lĩnh gây ra nhiều băn khoăn, hoài nghi trong dư luận. Ông Lĩnh đưa ra một số “bằng chứng lịch sử” như bản đồ, bưu thiếp, ghi chép cá nhân của một sĩ quan Pháp cho đến viện dẫn sách trắng Ngoại giao để tìm cách chứng minh rằng toàn bộ thác Bản Giốc là của Việt Nam và các nhà đàm phán Việt Nam đã nhân nhượng vô nguyên tắc, thậm chí quy chụp ta đã bán đất cho TQ. Xin Tiến sĩ vui lòng chia sẻ những nhận định của mình về vấn đề này?

- Ts Trần Công Trục: Tôi đã đọc kỹ bài viết này của ông Mai Thái Lĩnh. Đây là một trường hợp điển hình về việc nhầm lẫn giữa chủ quyền lịch sử, bằng chứng lịch sử, quan điểm lịch sử với các chứng lý lịch sử có giá trị pháp lý trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ theo luật pháp quốc tế.

Gần đây những vấn đề về quan điểm về chủ quyền lịch sử, bằng chứng lịch sử đã trở thành vấn đề nếu như chúng ta không nhìn nhận một cách khách quan, thực tế, cầu thị, có căn cứ sẽ dẫn đến tình trạng hết sức phức tạp, không chỉ những vấn đề tranh chấp lãnh thổ trên đất liền mà cả đối với các hải đảo và các vùng biển.

Để hiểu rõ câu chuyện ông Mai Thái Lĩnh đặt ra và giải tỏa những thắc mắc, băn khoăn trong dư luận, tôi xin nói qua về bối cảnh, xu hướng nhận thức sai lầm trong quan điểm xử lý tranh chấp lãnh thổ dựa trên quan điểm “chủ quyền lịch sử” đang tồn tại hiện nay.

Về mặt lịch sử, gần đây mọi người có lẽ cũng đọc những thông tin về các phe phái chính trị ở Campuchia sử dụng các vấn đề lãnh thổ mang tính lịch sử không những để kích động cử tri Campuchia gây bất ổn chính trị xã hội đất nước này sau bầu cử Quốc hội mà còn gây chia rẽ quan hệ Campuchia - Việt Nam trên khu vực biên giới Tây Nam, điển hình là những phát biểu sai trái của ông Sam Rainsy, đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia vừa qua.

Luận điệu sai trái bám vào lịch sử của Sam Rainsy không mới, trước đây những nhóm chính trị đối lập Campuchia đã từng đưa ra các nhận định, lập luận dựa vào lịch sử cho rằng xét về lịch sử các đảo Phú Quốc, Thổ Chu (thuộc chủ quyền Việt Nam) là của Campuchia. Thậm chí có những người theo đuổi chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi tại Campuchia tuyên truyền rằng cứ theo lịch sử của họ thì ở đâu có cây thốt nốt, ở đâu có người Khemer thì ở đó là đất của Campuchia. 

Những luận điệu sai trái bám vào cái gọi là bằng chứng lịch sử, vùng đất lịch sử ấy đang được các thế lực chính trị lợi dụng tuyên truyền trong cộng đồng người dân Campuchia để kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan gây ra những vấn đề phức tạp, mặc dù 2 bên đã có quá trình thống nhất cơ sở pháp lý, đàm phán và phân giới cắm mốc một cách rõ ràng, minh bạch, hết sức mang tính xây dựng, tuân thủ luật pháp quốc tế và chiếu cố đến lợi ích của nhau.

Ông Sam Rainsy, lãnh đạo đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia là người đưa ra những quan điểm hết sức sai lệch về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, kích thích chủ nghĩa dân tộc cực đoan và gây tổn hại đến quan hệ Campuchia - Việt Nam.

Đó là một ví dụ điển hình của quan điểm sai trái dựa vào chứng cứ lịch sử, quan điểm lịch sử, chủ quyền lịch sử hết sức mù mờ để giải quyết tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia. Điều này không những không có cách nào góp phần giải quyết tranh chấp lãnh thổ mà còn gây rối loạn xã hội, kích thích chủ nghĩa dân tộc cực đoan hẹp hòi và trở thành mảnh đất màu mỡ cho các thế lực chính trị lợi dụng tuyên truyền thu hút sự chú ý của dư luận nhằm thực hiện các ý đồ, mục tiêu của riêng họ.

Câu chuyện về Sam Rainsy và một số nhóm chính trị đối lập tại Campuchia viện dẫn những quan điểm sai trái về chủ quyền lịch sử, bằng chứng lịch sử để đưa ra những tuyên bố vô lý về vấn đề chủ quyền, gây rối loạn xã hội Campuchia, chia rẽ quan hệ Campuchia - Việt Nam. Điều này không khác gì hiện nay trong dư luận đang sử dụng yếu tố lịch sử để lật lại vấn đề đàm phán biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc (TQ) và tung tin các nhà đàm phán Việt Nam, lãnh đạo Việt Nam bán đất cho TQ.

Quay trở lại vấn đề biên giới phía Bắc, lâu nay vẫn có không ít người nhầm lẫn giữa quan điểm chủ quyền lịch sử với các chứng lý lịch sử có giá trị pháp lý trong giải quyết tranh chấp chủ quyền.

Tôi xin nhắc lại thỏa thuận về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa Việt nam và TQ: “Vấn đề biên giới trên đất liền: Căn cứ vào nguyên tắc: “Hai bên đồng ý căn cứ vào Công ước hoạch định biên giới ký giữa Pháp và TQ ngày 26-6-1887 và Công ước bổ sung Công ước hoạch định biên giới ngày 20-6-1895, cùng các văn kiện và bản đồ hoạch định cắm mốc kèm theo đã được Công ước và Công ước bổ sung nói trên xác nhận và quy định; đối chiếu xác nhận lại toàn bộ đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và TQ.”

Đó là nguyên tắc cơ bản nhất mà 2 bên Việt Nam và TQ đã thỏa thuận và dựa vào. Như vậy, ngoài nội dung của Công ước hoạch định này còn có các văn kiện và bản đồ phân giới cắm mốc kèm theo được “Công ước và Công ước bổ sung xác nhận và quy định”. Nguyên tắc này đã chỉ rất rõ các loại văn bản, tài liệu nào có thể được sử dụng làm cơ sở để 2 bên dựa vào đó đàm phán.

Tiến sĩ Trần Công Trục trong một lần đi thực địa xác định, tìm hiểu đường biên giới phía Bắc.

Xin nói thêm là nguyên tắc này sau khi hai bên thỏa thuận, thống nhất xong đều phải đưa ra Quốc hội 2 nước họp và thông qua bằng Nghị quyết chứ không một cá nhân nào có thể tùy tiện nêu ra. Hai bên chính thức ký kết thỏa thuận về những nguyên tắc giải quyết tranh chấp biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với TQ ngày 9/10/1993.

Công ước Pháp - Thanh 1887 và Công ước Pháp - Thanh bổ sung 1895 cùng các văn kiện, bản đồ hoạch định cắm mốc kèm theo được công ước trên xác nhận và quy định mới được xem xét là có giá trị khi đưa ra đàm phán các khu vực có tranh chấp về chủ quyền. Tất cả các tài liệu, chứng cứ lịch sử như bản đồ, thư tịch, sách giáo khoa, bưu ảnh, ghi chép cá nhân nằm ngoài phạm vi của 2 bản Công ước trên đều không được chấp nhận, kể cả là ta hay TQ.

Nếu cứ dựa vào lịch sử, sách giáo khoa, bản đồ để khẳng định chủ quyền đối với các khu vực tranh chấp thì không bao giờ, không ở đâu có thể giải quyết được vì không có một cơ sở nguyên tắc chung. Ta có tài liệu, có bản đồ, có sách giáo khoa, có bưu ảnh để nói chủ quyền một số khu vực nào đó là của ta thì phía TQ họ cũng có những tài liệu tương tự.

Vì vậy, chỉ có thể dựa trên nguyên tắc pháp lý, văn bản pháp lý có giá trị cao nhất ở đây là Công ước Pháp - Thanh 1887, 1895 mới có thể giải quyết được vấn đề, nếu không đồng báo chiến sĩ sẽ tiếp tục hi sinh, môi trường bất ổn định và không thể có hòa bình, chắc chắn ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước.

Chúng ta luôn sẵn sàng bảo vệ từng tấc đất của Tổ Quốc nhưng phải trên cơ sở pháp lý, trên cơ sở chúng ta phải xác nhận rõ ràng khu vực đó thuộc chủ quyền của Việt Nam được quốc tế thừa nhận, dù có phải đổ máu, hi sinh bao nhiêu chúng ta cũng phải bảo vệ.

Nhưng những khu vực tranh chấp trên tuyến biên giới trên bộ giữa Việt Nam và TQ thì cả 2 bên đều không đủ chứng cứ pháp lý chứng minh chủ quyền của mình và thuyết phục được đối phương. Vì thế mới cần đàm phán, giải quyết theo thỏa thuận trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế.

Tiến sĩ Trần Công Trục và một người dân địa phương bên cột mốc biên giới Việt Nam - Trung Quốc từ thời Pháp - Thanh để lại.

Chúng ta không thể ở khu vực biên giới phía Bắc thì cứ đòi dựa vào lịch sử, vào sách giáo khoa, vào tiềm thức, tâm tư và tình cảm của mình để khẳng định một vùng đất là của chúng ta nhưng ở khu vực khác như biên giới Tây Nam chúng ta lại phủ nhận quan điểm lịch sử, bằng chứng lịch sử, chủ quyền lịch sử khi đối phương đưa ra để đòi chủ quyền những vùng đất của chúng ta.

Khi chúng ta đọc được, nghe được các thông tin về các nhóm chính trị ở Campuchia tuyên truyền rằng Việt Nam bành trướng, cướp đất của Campuchia, chắc chắn chúng ta đều hết sức phẫn nộ và kịch liệt phản đối.

Chúng ta không xem nhẹ các yếu tố, sự kiện lịch sử, nhưng cần đánh giá một cách khách quan, yếu tố tư liệu lịch sử nào có giá trị pháp lý áp dụng giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc 2 bên thỏa thuận trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế.

Những người vẫn còn đang theo đuổi “chủ quyền lịch sử, quan điểm lịch sử và bằng chứng lịch sử” để chỉ trích Việt Nam bán đất cho TQ ở thác Bản Giốc, Hữu Nghị Quan hay sông Bắc Luân, thử hỏi họ có thể chấp nhận được quan điểm vô lý của một số người Campuchia như Sam Rainsy khi đòi “chủ quyền” đối với đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu, thậm chí là cả Nam Bộ của Việt Nam hay không? Tôi tin là hoàn toàn không.

Ở ngoài Biển Đông, liệu những người này có thừa nhận quan điểm “chủ quyền lịch sử” của TQ đòi yêu sách đối với Biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam hay không? Đường lưỡi bò mà TQ đưa ra ở Biển Đông được họ chủ trương là “chủ quyền lịch sử”, “danh nghĩa lịch sử”, họ đưa ra những tài liệu lịch sử, chứng cứ lịch sử, đặt tên đảo, thậm chí nói là từ trước Công nguyên, liệu những người theo đuổi “chủ quyền lịch sử” có chấp nhận được quan điểm đó không?

Đường lưỡi bò phi pháp Trung Quốc đưa ra trên Biển Đông dựa vào cái gọi là "chủ quyền lịch sử", "quan điểm lịch sử", "bằng chứng lịch sử" hoàn toàn không có giá trị pháp lý.

Tôi không nói về vấn đề quan điểm chính trị, chỉ nói về nhận thức thì rất nhiều người yêu nước, tâm huyết với công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia hiện nay nhưng lại chỉ say sưa với “bằng chứng lịch sử”, “chủ quyền lịch sử” mà vô tình không thấy rằng chính TQ và thế lực chính trị đối lập, cực đoan tại Campuchia đang khai thác yếu tố “chủ quyền lịch sử”, “chứng cứ lịch sử” để đưa ra yêu sách phi lý và phi pháp, chúng ta không thể cứ mãi tiếp tục mơ hồ, chạy theo quan điểm sai trái này.

Chúng ta phải đặt mình vào vị trí của các nước có liên quan để có cái nhìn khách quan và đầy đủ đối với vấn đề tranh chấp lãnh thổ.

Tại sao chúng ta và cộng đồng quốc tế có thể chấp nhận những tư duy duy ý chí đó? Ví dụ như 2 gia đình tranh chấp một thửa đất, thì chỉ có thể dựa vào các tài liệu, chứng cứ pháp lý như sổ đỏ, hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, di chúc...để xem xét giải quyết, anh không thể vác gia phả sang hàng xóm bảo họ rằng, căn nhà này anh có sổ đỏ, nhưng nó thuộc gia đình tôi từ thời cụ tổ và giờ hàng xóm phải trả lại. Đó là những tư duy duy ý chí, hết sức sai lầm và chỉ đẩy vấn đề vào ngõ cụt.

Vì vậy chúng ta phải hiểu một cách hết sức rõ ràng, công khai và sòng phẳng về những điều này. Còn đương nhiên Công ước Pháp - Thanh, cơ sở pháp lý mà chúng ta đã ký kết, thỏa thuận với TQ ra đời cách thời điểm hai bên ngồi đàm phán với nhau cả trăm năm thì việc mô tả, thể hiện trên bản đồ do rào cản kỹ thuật cũng như điều kiện địa hình, địa mạo, một số khu vực có thể có sai khác mới dẫn đến tranh chấp và nhận thức khác nhau, điều này hết sức bình thường, hai bên mới phải ngồi vào bàn đàm phán. 

Nếu đã có một đường biên giới hoàn chỉnh và rõ ràng thì cần gì đàm phán, và cũng chẳng có chuyện tranh chấp, giằng co nhau dẫn tới đổ máu. 

Do đó chúng ta phải nghiên cứu cách tiếp cận vấn đề, tránh những hiểu lầm trong nội bộ chúng ta cũng như tránh những hệ lụy nguy hiểm chỉ vì thiếu thông tin hoặc nhận định sai lầm về “chủ quyền lịch sử”. Câu chuyện về thác Bản Giốc, Hữu Nghị Quan, sông Bắc Luân là câu chuyện của ngày hôm qua nhưng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hôm nay và ngày mai, khi trên Biển Đông thì TQ đòi yêu sách “chủ quyền lịch sử”, ở biên giới Tây Nam các thế lực chính trị cực đoan Campuchia dùng “chủ quyền lịch sử” âm mưu phá vỡ sự ổn định đường biên giới đã được chính thức đàm phán, ký kết và phân giới cắm mốc. Còn bám vào quan điểm “chủ quyền lịch sử” là vô tình trúng bẫy của TQ cũng như Sam Rainsy.

Bức ảnh chụp lại buổi trao bản đồ đường biên giới chủ trương giữa 2 đoàn Việt Nam - Trung Quốc, Tiến sĩ Trần Công Trục (bên phải) đại diện đoàn Việt Nam. Sự kiện diễn ra lúc 11 giờ 30 phút ngày 27/6/1994 tại phòng họp lớn tầng 4 khách sạn Hoa Phượng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ở Bắc Kinh do ông Nguyễn Hiền Nhân chụp lại.


Chúng ta nghiên cứu lịch sử để hiểu công lao dựng nước, giữ nước của các thế hệ cha ông, nhưng về mặt tranh chấp lãnh thổ thì chúng ta phải hết sức lưu ý giá trị pháp lý của các chứng cứ lịch sử, tài liệu lịch sử ở mức độ nào chứ không phải tất cả các yếu tố lịch sử có thể đem ra khẳng định yêu sách chủ quyền, không ai chấp nhận điều đó trên bình diện luật pháp quốc tế.

- PV: Quay lại câu chuyện tài liệu “Sự thật thác Bản Giốc” của ông Mai Thái Lĩnh đưa ra các tài liệu lịch sử, chứng cứ lịch sử để khẳng định rằng toàn bộ ngọn thác này thuộc chủ quyền của Việt Nam và quy kết các nhà đàm phán, lãnh đạo Việt Nam đã nhân nhượng vô nguyên tắc, bán đất cho TQ. Xin Tiến sĩ vui lòng phân tích cụ thể trường hợp điển hình này về những nhầm lẫn giữa “chủ quyền lịch sử”, “bằng chứng lịch sử” với các chứng lý lịch sử có giá trị pháp lý trong giải quyết tranh chấp biên giới lãnh thổ trên cơ sở luật pháp quốc tế?

- Ts Trần Công Trục: Trong tài liệu này, ông Mai Thái Lĩnh căn cứ vào sách giáo khoa, vào lịch sử, văn chương, bưu ảnh, bản đồ cho đến cả ghi chép cá nhân của một người trong đoàn đàm phán Pháp - Thanh. Tất cả các tài liệu này, như đã phân tích ở trên rõ ràng nó nằm ngoài phạm vi nguyên tắc pháp lý mà 2 bên Việt Nam và TQ có thể thống nhất và đã thống nhất với nhau Công ước Pháp - Thanh 1887, 1895 và các văn kiện bản đồ phân giới cắm mốc đi kèm, do đó những tài liệu ông Lĩnh đưa ra chỉ có tính chất tham khảo và không thể dùng làm chứng cứ để khẳng định chủ quyền của anh hay của tôi. Phía TQ cũng có các tài liệu tương tự như vậy, và ta không chấp nhận.

Để giải đáp những băn khoăn, thắc mắc trong dư luận về thác Bản Giốc, tranh chấp ở chỗ nào và tại sao có những tranh chấp đó, xin được nhắc lại như sau. 

Thác Bản Giốc là 1 trong 4 khu vực C trọng điểm tồn lại trong quá trình Việt Nam và TQ đàm phán biên giới trên bộ. Căn cứ vào Công ước Pháp - Thanh 1887, 1895 và các bản đồ, văn kiện kèm theo thì đường biên giới qua khu vực thác Bản Giốc được mô tả là đi giữa dòng sông Quây Sơn đến đỉnh thác chính và thác Bản Gốc là một bộ phận của sông Quây Sơn. Từ đỉnh dòng thác chính thác Bản Giốc đường biên giới kéo thẳng đến mốc 53 nằm bên sườn quả núi bên trái con đường đi. Các tài liệu pháp lý để lại đã mô tả như vậy.

Khi hai bên đã thỏa thuận xong được nguyên tắc chung đàm phán hoạch định biên giới trên đất liền, Việt Nam và TQ mỗi bên về thể hiện đường biên giới chủ trương của mình lên bản đồ địa hình chung do 2 bên thỏa thuận trước. Đường biên giới chủ trương do 2 bên tự xác định bởi các chuyên gia bản đồ, pháp lý, kỹ thuật của mỗi bên và được các địa phương nơi đường biên giới đi qua xác nhận.

Khi trao đổi bản đồ thể hiện đường biên giới chủ trương thì đoạn đường biên giới qua khu vực sông Quây Sơn và thác Bản Giốc gần như trùng nhau hoàn toàn, chỉ có duy nhất 1 điểm khác biệt là ở thượng nguồn thác Bản Giốc trong Công ước không mô tả khu vực sông Quây Sơn rẽ thành 2 nhánh ôm lấy một cồn gọi là cồn Pò Thoong. 

Thác Bản Giốc không có tranh chấp, chỉ có cồn Pò Thoong (cồn Pò Đon) do tài liệu pháp lý để lại không rõ nên mới tạo ra tranh chấp. Mốc 53 theo Công ước Pháp - Thanh là mốc 835/1 hiện nay. Các mốc giới khu vực sông suối đều được cắm so le trên đất liền, không cắm giữa sông suối. (Ảnh do nhân vật cung cấp)

Tranh chấp chính là cồn Pò Thoong với 2 luồng chảy đổ xuống thác Bản Giốc do tài liệu để lại không rõ ràng. Do đó thác Bản Giốc không có gì tranh chấp, chỉ còn lại cồn Pò Thoong 2 bên phải đàm phán giải quyết. Trong thực tế quản lý có rất nhiều quan điểm khác nhau, ta nói của ta, TQ nói của họ, vì có tranh chấp nên có những thời kỳ xuất hiện cả kiến trúc xây dựng trên cồn Pò Thoong để khẳng định chủ quyền, và điều này là hoàn toàn bình thường.

Khi cả ta và TQ không đủ chứng cứ, tài liệu pháp lý để bảo vệ yêu sách chủ quyền đối với cồn Pò Thoong, 2 bên phải dựa vào nguyên tắc chung thỏa thuận ban đầu, đối với đường biên giới di qua sông suối tàu thuyền không đi lại được thì đường biên giới đi qua trung tuyến dòng chảy chính. Khi phân giới cắm mốc, 2 bên đo đạc xác định dòng chảy chính nằm về phía Việt Nam, nếu căn cứ vào nguyên tắc pháp lý trên thì cả cồn Pò Thoong sẽ thuộc về Trung Quốc.

Khi giải quyết, vấn đề này động chạm đến tình cảm, tiềm thức của người dân Việt Nam nên 2 bên có sự trao đổi, chiếu cố lợi ích của nhau để giải quyết tranh chấp một cách thích hợp. Cuối cùng 2 bên thống nhất đường biên giới đi qua cồn Pò Thoong, hai phần ba thuộc về TQ và một phần ba thuộc về Việt Nam. Đó là giải pháp đã tính đến lợi ích của đôi bên, liên quan đến tình cảm và quá trình quản lý.

Tuy nhiên khu vực này là 1 cảnh quan có giá trị đối với cả 2 bên, không ai xây dựng cột mốc ở khu vực giữa dòng sông suối nên theo thông lệ quốc tế, chúng ta và TQ thỏa thuận hợp tác khai thác du lịch tại khu vực thác Bản Giốc vì lợi ích đôi bên, cụ thể 2 bên sẽ đàm phán và có phương án hợp lý. Tôi cho rằng kết quả đàm phán là hoàn toàn phù hợp luật pháp, thông lệ quốc tế.

Chính tôi đã từng lội sông, lội suối lên khu vực thượng nguồn sông Quây Sơn, thác Bản Giốc, tận tay sờ vào cột mốc 53 và rõ ràng cồn Pò Thoong không được mô tả trong tài liệu 2 bên dựa vào làm căn cứ. Không có chuyện mốc 53 cắm trên cồn Pò Thoong.

Sở dĩ có những hiểu lầm trong dư luận là toàn bộ thác Bản Giốc thuộc về Việt Nam là vì trong quá trình quản lý biên giới, theo quy định và cũng như thông lệ, không ai đem cột mốc cắm giữa dòng sông biên giới, những khu vực đường biên giới đi qua sông suối như khu vực thác Bản Giốc thì mốc được cắm so le. 

Tuy nhiên quá trình quản lý biên giới, biến thiên lịch sử, do chiến tranh, hoặc do nguyên nhân nào đó khu vực thác Bản Giốc, cột mốc biên giới từ thời Pháp - Thanh xác lập bị mất cột mốc bên phía Việt Nam, chỉ còn cột mốc bên phía TQ nên người dân đến đây có cảm giác toàn bộ thác Bản Giốc thuộc về Việt Nam vì chỉ nhìn thấy cột mốc bên phía TQ.

Trong khi đó Công ước Pháp - Thanh mô tả đường biên giới qua thác Bản Giốc bằng tiếng Pháp và tiếng TQ thì không được dịch và phổ biến ra cộng đồng, nên sự nghi ngờ, mơ hồ của dư luận về khu vực này là có thể hiểu được.

Hiện nay rõ ràng nhiều người vẫn còn chưa hiểu rõ về vấn đề thác Bản Giốc và điều đáng nói là không chỉ người dân mà ngay cả những người làm công tác nghiên cứu và quản lý vẫn cảm thấy mơ hồ như tôi đã từng phân tích, họ thiếu thông tin, thiếu nghiên cứu pháp lý và thực địa.

Trong dân gian người ta đã đọc được nhiều tài liệu về thác Bản Giốc, trong đó có những tài liệu của chính chúng ta, kể cả tài liệu chính thức như sách giáo khoa và các tài liệu văn bản mang tính chất nhà nước trong suốt một thời kỳ đã từng khẳng định, nhấn mạnh thác Bản Giốc là của Việt Nam. Thực tế chúng ta cũng thấy rằng, thời kỳ trước đây chưa có đường biên giới rõ ràng và cộng đồng dân cư vùng biên giao lưu qua lại mật thiết với nhau, những điều này dẫn đến hình thành nhận thức, tình cảm, thậm chí là tiềm thức cho rằng toàn bộ thác Bản Giốc là của Việt Nam cũng là điều dễ hiểu.

Đã có lúc đồng bào, chiến sĩ ta phải đổ máu để bảo vệ. Đó là sản phẩm của một quá trình nhận thức duy ý chí cả của ta lẫn TQ nên đã dẫn tới những tranh chấp, xung đột. Và khi xét dưới lăng kính luật pháp quốc tế, cái gì chúng ta sai chúng ta phải điều chỉnh, cái gì chúng ta đúng, chúng ta kiên quyết bảo vệ. Chỉ có trên tinh thần cầu thị, tôn trọng luật pháp quốc tế và nguyên tắc chung 2 bên đã thỏa thuận, chúng ta mới có thể ngồi lại đàm phán với TQ để hoạch định phân giới cắm mốc, xây dựng tuyến biên giới hòa bình, ổn định và hữu nghị.

Một số người có thể cố tình, có thể vô ý do nhận thức hạn chế về vấn đề “chủ quyền lịch sử” vẫn đang tiếp tục khai thác những tài liệu này để quy chụp rằng Việt Nam bán đất cho TQ, gây hoài nghi, chia rẽ trong dư luận, làm giảm sức mạnh đoàn kết dân tộc, gây bất ổn xã hội nhằm thực hiện một ý đồ, mục tiêu chính trị nào đó. Chúng ta phải hiểu rất rõ vấn đề này, nếu không sẽ rơi vào trạng thái mơ hồ, hoang mang, lúng túng và bị động.


* Đề nghị không sao chép lại dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của báo GDVN. Trích dẫn, đăng tải lại toàn bộ hoặc một phần thông tin từ bài viết này phải chịu trách nhiệm và ghi rõ "theo báo Giáo Dục Việt Nam" hoặc "theo Giaoduc.net.vn".

Mọi ý kiến nhận xét, phản biện về các nội dung trong bài viết trên tinh thần tôn trọng sự thật khách quan, bảo vệ lợi ích chính đáng của quốc gia, dân tộc và có lợi cho việc gìn giữ hòa bình, ổn định và phát triển đất nước, Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam sẵn sàng đăng tải. Tiến sĩ Trần Công Trục sẵn sàng trao đổi để làm rõ những thắc mắc, nghi vấn xung quanh vấn đề này. Những ý kiến, phản biện xin quý độc giả vui lòng gửi về địa chỉ doanphuc@giaoduc.net.vn, trân trọng cảm ơn!



Hồng Thủy



Cập nhật vào 14.09.2013 15:16


Thế giới  
CHDCND Triều Tiên đòi Hàn Quốc bồi thường 5,7 tỉ USD
CHDCND Triều Tiên đòi Hàn Quốc bồi thường 5,7 tỉ USD
[07.10.2011 15:10]


Chính trị  
Trao giải 16 ca khúc viết về thương binh, liệt sỹ
Trao giải 16 ca khúc viết về thương binh, liệt sỹ 16 ca khúc xuất sắc nhất tối 30/1 đã được chọn trao giải trong cuộc thi sáng tác ca khúc về đề tài “Thương binh, liệt sĩ và người có công” do Cục Văn hóa cơ sở (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp với Cục Người có công (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội) tổ chức. 16 ca khúc xuất sắc nhất tối 30/1 đã được chọn trao giải trong cuộc thi sáng tác ca khúc về đề tài “Thương binh, liệt sĩ và người có công” do Cục Văn hóa cơ sở (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp với Cục Người có công (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội) tổ chức. Ban tổ chức đã trao 1 giải xuất sắc nhất cho ca khúc “Tháng bảy” của tác giả Lê Mây (Hà Nội), 2 giải nhì thuộc về ca khúc “Đồng đội” của Đặng Nhất Mai (Hà Nội) và Em ở nơi nào cô gái Trường Sơn” của Lê Quang Vũ (Phú Thọ), cùng 3 giải ba và 10 giải khuyến khích cho các các ca khúc đat chất lượng tốt. Tại lễ Tổng kết và trao giải, các tác phẩm tiêu biểu trong số các ca khúc đạt giải đã được giới thiệu tới công chúng qua các tiếng hát của Đoàn Nghệ thuật quân khu II. Cuộc thi sáng tác ca khúc về đề tài “Thương binh, liệt sĩ và người có công” được phát động từ tháng 6/2012 nhân kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh, liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2012). Sau 6 tháng, Ban tổ chức đã nhận được 411 ca khúc từ khắp 3 miền, trong và ngoài nước gửi về tham dự. Tác giả của những ca khúc này có thể là nhạc sĩ chuyên và không chuyên, là những người thương binh, những người đã từng đi qua hoặc chưa từng đi qua các cuộc chiến tranh khốc liệt, nhưng mỗi nhịp điệu, lời ca trong các ca khúc đều là những lời tri ân của những người đang sống với đã mất; của những người đang được hưởng cuộc sống ấm no với những người đã phải hi sinh xương máu, hi sinh người thân của mình cho cho nền độc lập của dân tộc. Tạ Nguyên
[Nguyễn Dũng - 04.02.2013 15:48]


An ninh - Quốc phòng  
Y án 5 năm tù đối với Đoàn Văn Vươn

Y án 5 năm tù đối với Đoàn Văn Vươn

- 17 giờ ngày 30/7, HĐXX TAND Tối cao đã tuyên án y án đối với bị cáo Đoàn Văn Vươn. Có 2 bị cáo được giảm án.

Chiều ngày 30/7, HĐXX tiếp tục phần tranh tụng. Các luật sư tiếp tục đưa ra các luận điểm bào chữa cho các bị cáo Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Vệ, Đoàn Văn Sịnh, Nguyễn Thị Thương, Phạm Thị Báu.

Đại diện VKSND Tối cao đưa ra quan điểm của mình để các luật sư đối đáp với VKS.

Nói lời cuối cùng tại tòa, Đoàn Văn Vươn đề nghị việc HĐXX làm rõ sự tắc trách của chính quyền Tiên Lãng buộc người dân đến bước đường cùng, phải chống đối lại.

Đoàn Văn Vươn; Đoàn Văn Quý; Tiên Lãng; phúc thẩm; TAND tối cao

Đoàn Văn Vươn đề nghị việc HĐXX làm rõ sự tắc trách của chính quyền Tiên Lãng buộc người dân đến bước đường cùng, phải chống đối lại.

Bị cáo cũng cho biết đã  nhận thức được việc làm vi phạm pháp luật của mình và người thân.

Bị cáo Quý không đề xuất gì ở phần nói lời sau cùng. Bị cáo Sịnh đề xuất với HĐXX xem xét trường hợp bị cáo sức khỏe yếu, giảm sút, mong được giảm án để sớm về với gia đình, cộng đồng.

Bị cáo Sịnh nói, bị cáo là anh trong gia đình, bị cáo Sịnh thay mặt các em xin tòa khoan hồng cho hành vi vi phạm pháp luật của gia đình mình.

Bị cáo Vệ đề nghị HĐXX xem xét tình tiết phạm tội của bị cáo, bản án sơ thẩm là quá nghiêm khắc, xin giảm tội để được thả tại tòa.

Bị cáo Thương mong muốn những người thân sớm trở về với gia đình. Bị cáo Báu nói lời sau cùng vẫn giữ quan điểm đề nghị tòa tuyên hủy án sơ thẩm.

Sau khi nghị án, HĐXX đã tuyên án.

Theo đó, với tội danh giết người, Đoàn Văn Vươn bị tuyên y án, 5 năm tù, tính từ ngày tạm giam 10.1.2012.

Bị cáo Đoàn Văn Quý bị tuyên y án, nhận mức án 5 năm tù giam, tính từ ngày tạm giam 7.1.2012.

Cũng với tội danh giết người, bị cáo Đoàn Văn Sịnh được giảm án từ 3 năm 6 tháng tù xuống 2 năm 9 tháng tù, tính từ 10.1.2012; bị cáo Đoàn Văn Vệ được giảm án từ 24 tháng tù xuống 19 tháng tù giam, tính từ 10.1.2012.  

Với tội chống người thi hành công vụ, bị cáo Phạm Thị Báu bị tuyên mức án 18 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 36 tháng.

Bị cáo Nguyễn Thị Thương bị tuyên mức án 15 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 20 tháng (giữ nguyên án sơ thẩm).

HĐXX khẳng định, đủ chứng cứ và cơ sở để xác định Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh, Đoàn Văn Vệ phạm tội giết người, trong đó Đoàn Văn Vươn có vai trò chủ mưu; Quý có vai trò lớn thứ 2 sau Vươn; Đoàn Văn Sịnh là người tích cực giúp sức có vai trò sau Vươn, Quý. Đoàn Văn Vệ có vai trò đồng phạm giúp sức trong quá trình các bị cáo chuẩn bị phạm tội.  

Đoàn Văn Vươn; Đoàn Văn Quý; Tiên Lãng; phúc thẩm; TAND tối cao
Phiên tòa phúc thẩm khép lại sớm hơn 1 ngày so với dự kiến

Bị cáo Nguyễn Thị Thương, Phạm Thị Báu trực tiếp tham gia làm hàng rào, rải rơm, rạ, góp sức cho kế hoạch của các bị cáo trong nhóm tội ‘giết người’ nên giữ vai trò đồng phạm, đủ cơ sở, căn cứ để truy tố các bị cáo tội “Chống người thi hành công vụ”.

Trước đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo theo nội dung đơn kháng cáo, theo HĐXX, mức án Tòa sơ thẩm tuyên đối với các bị cáo là đúng người đúng tội, đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ, khoan hồng.

Các bị cáo thành khẩn khai báo tại cơ quan điều tra, tại phiên phúc thẩm các bị cáo Sịnh, Vệ thành khẩn khai báo và xin giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo còn lại quanh co chối tội .

Vì vậy, HĐXX quyết định chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Sịnh, Vệ. Bác các nội dung kháng cáo của các bị cáo còn lại.

Phiên tòa phúc thẩm kết thúc sớm hơn 1 ngày so với dự kiến ban đầu.

Kiên Trung

[Nguyễn An - 02.08.2013 10:01]


Kinh tế  
163 công ty trong tầm ngắm
   In bài viết này
 

 
▪  NGỌC DƯƠNG

16:08 (GMT+7) - Thứ Bảy, 29/9/2012
 
Kem tràng tiền được thâu tóm nhờ có đất mặt tiền Hà Nội, Đường Biên Hòa hay Vinacafe lại có sức hút riêng với các thợ săn. "Con mồi" tiếp theo có thể là một trong số 163 công ty niêm yết hấp dẫn hiện nay.

Nhóm “thợ săn” Bình Thiên An hẳn phải nở nụ cười mãn nguyện sau khi nắm quyền tại Công ty Cổ phần Xây dựng Công nghiệp Descon (DCC) kể từ cuối năm 2010. Chỉ riêng dự án Preche Thảo Điền (quận 2, TP.HCM) của DCC đã có giá khoảng 25-30 triệu USD, gấp đôi vốn hóa của Công ty lúc ấy.

Mua kem kèm đất

DCC là trường hợp điển hình cho thấy vì sao doanh nghiệp được đưa vào tầm ngắm của các thợ săn. Những doanh nghiệp có nhiều tài sản là bất động sản trong khi giá trị thị trường thấp hơn giá trị thực là đối tượng được nhắm đến đầu tiên. Nhiều doanh nghiệp nằm trong diện này đã bị thâu tóm trong thời gian qua, điển hình là trường hợp Công ty Tràng Tiền.

Sức hút của công ty kinh doanh kem này nằm ở chỗ dù sở hữu khoảng 1.500 m2 ”đất vàng” gần khu vực trung tâm thành phố Hà Nội, nhưng khi cổ phần hóa năm 2000, Công ty chỉ được định giá hơn... 3 tỉ đồng. Với 3 tỉ đồng, người dân chỉ mua được khoảng chưa đầy 10 m2 đất ở trung tâm Hà Nội.

Nhận diện doanh nghiệp qua đất thì quá dễ nhưng không phải ai cũng có suất mua. Do vậy, cách nhận diện những công ty có nhiều tài sản thông qua chỉ số P/BV (thị giá/giá trị sổ sách) đang phổ biến hơn. “Những công ty có chỉ số P/BV <= 0,7 lần được phía đi mua xem xét trước tiên. Nó cho thấy thị trường đang định giá trị công ty thấp hơn giá trị thực”, Giám đốc Đầu tư của một công ty chứng khoán lớn tại TP.HCM (không muốn nêu tên) cho biết. Cách làm này tỏ ra phù hợp trong giai đoạn hiện nay, khi nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn và giá cổ phiếu lao dốc trong khi tài sản vẫn còn đó.

Theo cách tính đó, có 163 doanh nghiệp niêm yết đang trong tầm ngắm của những tay săn doanh nghiệp. 163 doanh nghiệp này có chỉ số P/BV < 0,7 lần, theo thống kê của Công ty Chứng khoán Maybank Kim Eng tính đến cuối tháng 8.2012.

Không giàu thì phải giỏi

Nói như vậy không có nghĩa những doanh nghiệp không có đất hay tài sản giá trị sẽ nằm ngoài tầm ngắm. Doanh nghiệp tốt cũng là một đích ngắm quan trọng. Doanh nghiệp tốt được hiểu là có nền quản trị hiệu quả, cơ cấu tài chính ổn định, tập trung vào hoạt động cốt lõi, thị phần trong ngành cao. Cùng với yêu cầu về thị phần cao, bên mua còn xét khả năng liệu họ có thể mua chi phối (trên 50%) hay không. Những đơn vị như Nhiên liệu Sài Gòn (SFC) hoặc Đường Biên Hòa (BHS) đều có thị phần đáng kể hoặc đứng đầu ngành nhưng các lãnh đạo chủ chốt lại nắm rất ít cổ phần, giúp bên mua có nhiều khả năng đạt được tỉ lệ chi phối.

Nếu xét về lĩnh vực thì thực phẩm tiêu dùng luôn đứng đầu vì là ngành có mức tăng trưởng trên 30% mỗi năm và ít chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế. Theo thống kê của các tổ chức nghiên cứu mua bán và sáp nhập (M&A) như Thomson Reuters, IMAA và AVM Vietnam, ngành thực phẩm tiêu dùng chiếm đến gần 25% trong tổng giá trị các thương vụ M&A năm 2011.

Bên cạnh đó, một số lĩnh vực Việt Nam có lợi thế cũng được chú ý nhiều. Việt Nam là nước nông nghiệp nên những ngành liên quan thường được ưu tiên xem xét, chẳng hạn như thủy sản. Ngành này nổi tiếng với các vụ thâu tóm của Công ty Thủy sản Hùng Vương đối với Thủy sản An Giang, Lâm Thủy sản Bến Tre, Thức ăn Chăn nuôi Việt Thắng.

Ngoài ra, doanh nghiệp được nhòm ngó cũng thường là những đơn vị có “tiền đồ” sáng lạng. Theo Tổng giám đốc một công ty tài chính (không muốn nêu tên), đối với doanh nghiệp đi thâu tóm, điều quan trọng nhất là giá trị tạo ra sau thương vụ đó.

Thực vậy, trong nhiều thương vụ, doanh nghiệp đi thâu tóm sẵn sàng trả giá cao hơn giá thị trường. Đổi lại, bên bán phải đồng ý với các điều khoản như bên mua có thể gia tăng sở hữu hoặc nhận lại một điều khoản có lợi nào đấy. Ví dụ ở một thương vụ trong ngành bảo hiểm năm vừa rồi, bên mua chấp nhận trả mức giá cao hơn thị trường đến 2,5 lần để đổi lấy điều khoản đảm bảo nhận được các hợp đồng tái bảo hiểm.

Đáng chú ý, không phải doanh nghiệp quy mô lớn là hấp dẫn nhà đầu tư. Ví dụ, trong một thương vụ của ngành logistics, bên mua chỉ quan tâm đến mảng kinh doanh kho bãi và vận tải đường bộ trong khi bên bán còn có cả vận tải thủy đường biển và đường sông. Trong trường hợp này, bên mua có thể yêu cầu bên bán tách thành các công ty khác nhau để mua.

4 loại thợ săn ở Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, tiền mặt khan hiếm, dễ thấy các công ty có nguồn tài chính dồi dào sẽ là “thợ săn”. Một điển hình cho dạng này là MSN, đơn vị đã bỏ ra hơn 1.000 tỉ đồng để thâu tóm Vinacafe cuối năm 2011.

Dạng thợ săn thứ 2 là những doanh nghiệp chọn thâu tóm qua hình thức đầu tư chiến lược. Trên thị trường, đã có không ít vụ đối tác chiến lược “nuốt” luôn đối tác. Ví dụ như trường hợp ở 2 công ty Bibica (BBC) và Công ty Vật tư Xăng dầu Comeco (COM). Đối tác Lotte (Hàn Quốc) của BBC và PV Oil của COM đã liên tục tăng tỉ lệ sở hữu cổ phần ở công ty đối tác với mục đích kiểm soát.

Ngoài 2 xu hướng trên, gần đây còn xuất hiện một xu hướng mới là các nhóm dự án chuyên đi săn doanh nghiệp có nhiều tài sản cho các tập đoàn tư nhân. Họ thường là những người rành về tài chính tập hợp lại để đi săn hộ cho nhà đầu tư lớn.

Để tìm ra doanh nghiệp tốt, các nhóm như vậy phân tích báo cáo tài chính của những doanh nghiệp trên thị trường niêm yết và doanh nghiệp OTC (thị trường phi tập trung). Ngoài tiêu chí chính là có nhiều tài sản, những doanh nghiệp trong tầm ngắm còn phải có tiền mặt dồi dào với quy mô vừa và nhỏ.

Ngân hàng trực thuộc các tập đoàn tư nhân cũng là một dạng săn hộ để giúp tập đoàn mẹ thâu tóm doanh nghiệp. Việc thây tóm này có lợi thế là từ danh sách khách hàng vay vốn và các hồ sơ thẩm định doanh nghiệp có sẵn trong tủ ngân hàng trực thuộc, tập đoàn mẹ sẽ biết làm gì với những doanh nghiệp nằm trong tầm ngắm.

Quỹ đầu tư cũng là một dạng thợ săn đáng chú ý. Nhưng họ có đặc điểm là không mua để kiểm soát doanh nghiệp mà chủ yếu để đầu tư tài chính.

Săn chưa chắc được ăn

Khi thâu tóm một doanh nghiệp, dù xem xét rất kỹ, nhưng bên đi mua nhiều khi cũng không lường hết những rủi ro tiềm ẩn.

Đối với việc mua lại doanh nghiệp có nhiều tài sản để đầu tư tài chính, rủi ro trước tiên là mức lợi nhuận kỳ vọng có thể không như tính toán. Mức lợi nhuận này được kỳ vọng từ giá cổ phiếu rẻ, công ty có nhiều tài sản, P/E (giá/lợi nhuận mỗi cổ phiếu) có thể tăng cao. Rủi ro nằm ở chỗ để đạt được hệ số P/E như mong muốn, thời gian có thể lâu hơn tính toán. Quan trọng hơn, làm sao có thể bán lại cổ phiếu và các tài sản với mức giá kỳ vọng trong tình trạng thanh khoản kém đi.

Các thương vụ mua để đầu tư chiến lược cũng gặp không ít rủi ro. Cuối tháng 10.2005, KDC đã thâu tóm Công ty Nước giải khát Sài Gòn (TRI). Từ quý 4/2008 đến cuối năm 2011 (trừ quý 2/2010), TRI liên tục lâm vào cảnh thua lỗ. Công ty này đã bị Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM hủy niêm yết. Ông Trần Lệ Nguyên, Tổng giám đốc KDC, cho biết: “Kinh Đô gặp khó khăn trong vấn đề góp ý điều hành chiến lược”. Giới trong ngành cho rằng không loại trừ khả năng, có thể do các cổ đông lớn sau khi thâu tóm không tìm được tiếng nói chung, dẫn đến các bên không quan tâm đến sự phát triển của TRI.

Chi phí tài chính để thực hiện thương vụ cũng là điều đáng ngại. Cho dù chỉ có một phần tiền đi vay chịu lãi suất cao nhưng cũng sẽ khiến chi phí tăng lên và lợi nhuận giảm xuống so với kỳ vọng.

Ngoài ra, những cái bẫy tài chính từ công ty bị thâu tóm cũng có thể khiến thợ săn bị hớ. Chẳng hạn, các nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện hết như nợ thuế, lương thưởng và các điều khoản đặc biệt đối với nhân viên công ty đó. Điển hình là các hợp đồng trả tiền cho người lao động theo thâm niên hay thưởng đặc biệt khi xảy ra các trường hợp tương tự như bán công ty. Trong trường hợp này, nếu trả tiền cho hàng ngàn người lao động, có khi công ty đó chẳng còn đồng tiền mặt nào.

(Nguồn: Nhịp cầu Đầu tư)
[nguyen dũng - 02.10.2012 13:16]


Pháp luật  
Bài văn lạ về nỗi sợ của loài người

Bài văn lạ về nỗi sợ của loài người

Diễn viên Lương Mạnh Hải lại nói: "Tôi chỉ sợ luật pháp"... Phải chăng bên cạnh sự can đảm thì cái sợ ở một khía cạnh nào đó cũng thật cần thiết?

 

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa


Đề bài:

Trong bài phỏng vấn diễn viên Lương Mạnh Hải trên trang tạp chí điện tử Đẹponline ngày 14.9.2012 có đoạn đối thoại sau:
 

- Còn anh, anh sợ “thằng”nào?
 

- Tôi chỉ sợ luật pháp.
 

- Ngoan hiền thế kia sao phải sợ luật pháp?
 

- Đấy, chính vì sợ luật pháp nên mới ngoan hiền.
 

Lấy “Sợ” làm đề tài, anh (chị) hãy viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình
 .

Bài làm:

Napoleon từng nói “Kẻ nào sợ bị khuất phục, kẻ đó sẽ thất bại.” Bởi thế nên trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta luôn được khích lệ động viên bằng những câu nói “Đừng sợ thất bại”, “Chớ sợ khó khăn”… Có lẽ trong suy nghĩ của nhiều người, cái sợ dường như thật vô ích, cái sợ trở thành một thứ ngăn trở con người tiến lên, thành công. Vậy mà trả lời phỏng vấn một tờ báo, khi được hỏi sợ điều gì, diễn viên Lương Mạnh Hải lại nói :”Tôi chỉ sợ luật pháp.” “- Ngoan hiền thế kia sao phải sợ luật pháp?” “- Chính vì sợ luật pháp nên mới ngoan hiền.” Phải chăng bên cạnh sự can đảm thì cái sợ ở một khía cạnh nào đó cũng thật cần thiết?

Sợ là cảm xúc lo lắng, bất an khi đối diện với một nỗi nguy hiểm hoặc một mối đe dọa nào đó có thể xảy đến với mình. Sợ là một biểu hiện tâm lý mà bất kỳ ai cũng sẽ gặp phải trong cuộc sống, nó luôn hiện diện thật phong phú. Một đứa bé có thể sợ không có mẹ ở bên, một học sinh sợ bị điểm kém, một cô gái nhút nhát có thể sợ khi đối diện với đám đông, một người bán rong sợ trời mưa gánh hàng bị ế, một người sắp rời khỏi cuộc đời sợ cái chết,…. Theo các nhà tâm lý học thì sợ là một cảm xúc thuộc về bẩm sinh, bản năng của mỗi con người, nó là một điều rất đỗi bình thường.

Đa phần ta vẫn thường cho rằng sợ hãi là một cảm xúc không tốt, nó khiến con người trở nên nhụt chí, trở nên hèn nhát và cản trở thành công. Kinh Phật cũng đề cao cái “vô úy”, “vô sở úy” (Tức là không sợ hãi) mà răn rằng: “Đừng nên để lòng vào chỗ sợ hãi lắm mới xa lìa trong trường chiêm bao tráo trác”.

Nếu sợ thất bại mà không dám đối diện với khó khăn, không dám thử, không dám khám phá những cái mới, cái sợ đó sẽ khiến con người trở nên nhỏ bé và giới hạn khả năng của chính mình. Turgot nói: “Có những người vì sợ gãy chân mà không dám bước đi. Nhưng không dám bước đi thì khác nào chân đã gãy?” Quả thực, với cuộc sống phong phú này thì một lần dám đối diện với thử thách, một lần dám “liều” thì con người sẽ khám phá và mở rộng hơn rất nhiều cuộc sống vốn ngắn ngủi, đó là khi thành công đến, là khi tìm thấy và khẳng định được chính mình.

Nếu sợ cường quyền mà khuất phục, cúi đầu để được sống, để đạt được mục đích đê hèn thì nỗi sợ hãi đó cũng thật đáng khinh. Sợ cấp trên nên nịnh nọt để được thăng tiến, để không bị trù dập, sợ mất cơ hội mà tranh giành, đấu đá dẫm đạp nên mọi giá trị. Những nỗi sợ đó khiến con người vốn nhỏ bé lại càng bị kéo xuống thấp hơn.

Nhưng không phải vì thế mà cứ sống một cách ngang tàng, không biết sợ bởi lẽ có những nỗi sợ lại rất cần thiết trong cuộc sống. Nếu biết tiết chế nỗi sợ hãi và biết sợ hãi đúng lúc, đó có khi lại là một cách hay để sống tốt cuộc sống của mình.

Bởi lẽ đối diện với bất kỳ một vấn đề nào trong cuộc sống, cái sợ sẽ khiến con người trở nên cẩn trọng hơn. Cuộc sống luôn ẩn chứa những khó lường, những thay đổi mà con người không thể biết hết, sợ những hiểm nguy đó cũng giống như một người đi trong đêm sợ bóng tối vậy. Để từ nỗi sợ đó, ta sẽ tính toán cẩn thận và có những bước đi đúng đắn. Sợ thất bại, ta sẽ cẩn trọng để không phải mắc sai lầm, để đi đến thành công nhanh chóng hơn. Nếu không biết sợ, ai cũng có thể nhắm mắt làm liều, làm bừa thì hậu quả sẽ khôn cùng. Vụ sập cầu Cần Thơ năm 2008 chẳng phải cũng là biểu hiện của sự thiếu cẩn trọng mà căn nguyên của nó cũng chỉ vì không biết sợ hay sao?

Hơn nữa, đôi khi cái sợ lại là biểu hiện trái chiều của thái độ trân trọng với cuộc đời. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết: “Mỗi một con người vì ngại chết mà muốn sống. Mỗi một con người vì sợ mất tình mà giữ mãi một lòng nhớ nhung.” Một ví dụ giản dị nhất của nỗi sợ, đó là sợ cái chết. Sợ cái chết không chỉ là một nỗi sợ bản năng của con người mà với những người biết trân trọng cuộc sống, sợ cái chết vì còn nhiều điều chưa hoàn thành, vì còn nhiều dự định còn ấp ủ. Không yêu đời sao phải ngại chết, không trân trọng tình người sao phải sợ mất tình?

Ta vẫn thường nhìn nhận sự sợ hãi đồng nghĩa với hèn nhát, thiếu can đảm, từ đó mà xem nhẹ, coi khinh cái sợ. Nhưng đôi khi, có những nỗi sợ hãi lại tôn con người lên, khẳng định phẩm giá của con người, như nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân, nhân vật Huấn Cao - một con người không biết sợ bất cứ thế lực nào nhưng lại có một nỗi sợ thật cao quý “sợ phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ.” Chính cái sợ đó đã tôn vinh Huấn Cao lên thêm một bậc của kẻ anh hùng.

Trở lại với cuộc đối thoại ngắn của diễn viên Lương Mạnh Hải để thấy được một trong những điều con người nên sợ hãi, đó là sợ pháp luật. Người ta thường nói, nếu không làm điều gian tà, độc ác, sao phải sợ sự trừng trị của pháp luật? Nhưng Lương Mạnh Hải lại cho rằng người thiện lương mới là người sợ pháp luật. Bởi lẽ cái sợ sự trừng trị nghiêm minh của pháp luật với những kẻ gian tà thực chất chỉ là cái sợ bề ngoài, cái sợ thuộc về bản năng khi phải đón nhận một bản án không tốt dành cho mình. Còn cái sợ pháp luật của người lương thiện đó không chỉ là cái sợ để hướng con người biết giới hạn, biết hành xử đúng mực mà đó là cái sợ khi phải đối diện với tòa án lương tâm trong chính mỗi con người.

Xã hội sẽ ra sao nếu như ai ai cũng không biết sợ pháp luật? Đó là khi những quy tắc, chuẩn mực, giới hạn bị phá vỡ, khi mọi quyền của con người bị xâm phạm một cách ngang nhiên. Đó là khi ai cũng có thể lợi dụng những kẽ hở của pháp luật để gây tội ác, như những dư chấn sau vụ án Lê Văn Luyện, đó là tội ác của Lê Anh Tuấn, không biết sợ pháp luật vì biết mình chưa đủ độ tuổi luật định để nhận bản án thích đáng của pháp luật đối với tội ác dã man của mình.

Bởi thế mà cái sợ không phải lúc nào cũng là vô ích, vô nghĩa. Sợ để biết sống đúng mực, sợ để biết trân trọng những gì đáng quý trong cuộc đời, sợ để biết cẩn trọng hơn. Đó là cái sợ nên có trong cuộc đời.

Cuối cùng, thực chất, sợ và không sợ cũng chỉ tồn tại trong cùng một mối quan hệ mà thôi, vì sợ cái này mà không sợ cái kia. Nó giống như sự can đảm của người lính, không sợ cái chết bởi sợ sống một cuộc sống còn tồi tệ hơn cái chết, đó là cuộc sống của một dân tộc đã chết. Nó cũng giống như nhà bác học Ga-li-lê không sợ giáo hội Thiên Chúa giáo thế kỉ XVIII vì sợ chân lý bị đánh cắp khi bảo vệ quan điểm Trái Đất quay quanh mặt trời của mình. Bởi vậy sợ và không sợ, cái nào nên, cái nào không nên thực chất không có ranh giới rõ rãng, ranh giới đó do chính mỗi người tự đặt ra khi đối diện với mọi vấn đề trong cuộc sống. Để làm sao, dù không sợ hay sợ thì ta vẫn luôn hành xử một cách đúng mực.

Còn tôi, tôi sợ một ngày tôi đánh mất chính mình…

Theo Bùi Thị Kim Anh
Vietnamnet
[NGUYỄN ĐỨC THĂNG - 02.12.2012 17:34]


Đời sống  
“Người rừng” xuất hiện ở Đức
“Người rừng” xuất hiện ở Đức
[17.09.2011 10:34]


Thể thao  
Các danh thủ bóng đá có thể hình khiêm tốn
Các danh thủ bóng đá có thể hình khiêm tốn
[07.10.2011 16:48]


Giáo dục  
'Thần đồng' 11 tuổi nhận học bổng 2 tỷ đồng
'Thần đồng' 11 tuổi nhận học bổng 2 tỷ đồng
[07.10.2011 16:42]


Du lịch - Lữ hành  
Phát hiện một “công trình” kỳ diệu của thiên nhiên

(Dân trí) - Động Sấm không chỉ có dấu tích về lịch sử mà còn đẹp một cách huyền bí. Trải qua hàng nghìn năm, thiên nhiên vẫn tiếp tục công việc trang trí một cách cần cù và sáng tạo, làm nên một “công trình thế kỷ” diệu kỳ…

[NT - 26.08.2009 13:53]


Sức khỏe  
Những món ăn giúp nhuận da, chống lão hoá
Những món ăn giúp nhuận da, chống lão hoá
[17.09.2011 10:55]


Guong sang DV  
Những người gốc Việt thành công ở nước ngoài
Betty Nguyễn, 36 tuổi, là người Mỹ gốc Việt đầu tiên dẫn một chương trình truyền hình quốc gia. Cô làm việc cho CNN suốt 6 năm và đưa tin hàng loạt các sự kiện quan trọng như động đất ở Haiti, các cuộc bầu cử tổng thống ở châu Phi, bão Katrina ở Mỹ, Giáo hoàng John Paul II qua đời.
[Gia Bảo - 23.09.2010 15:33]


Công nghệ  
Làm dịu trái đất
 Ngày 1-12 tại Pô-dơ-nan (Ba Lan) Ủy ban liên Chính phủ của LHQ về biến đổi khí hậu chủ trì hội thảo vấn đề "làm dịu trái đất", với sự tham gia của đại biểu 190 nước. Tại các khu vực đã tổ chức nhiều cuộc thảo luận về hậu quả do ô nhiễm môi trường gây ra và sự cần thiết phải  thúc đẩy hành động quyết liệt vì môi trường xanh.
[Nguyễn Hồng - 01.12.2008 09:56]


Nhịp sống Trẻ  
Audio Nhịp sống trẻ: Ứng xử đẹp nơi công cộng
Audio Nhịp sống trẻ: Ứng xử đẹp nơi công cộng
[07.10.2011 00:00]


Tấm lòng vàng  
Mẹ mất, ba bệnh nặng, 3 chị em đến trường trong gian khó
Mẹ mất, ba bệnh nặng, 3 chị em đến trường trong gian khó
[17.09.2011 11:03]


Giám sát cộng đồng  
Hồ Gươm tắc nghẽn trước khai mạc đại lễ

Tối 29/9 các tuyến đường xung quanh khu vực Hồ Gươm đã tắc nghẽn nghiêm trọng do dòng người ùn ùn đổ về xem 5 sân khấu chuẩn bị mừng đại lễ và những dàn đèn lung linh, tuyệt đẹp















[Gia Bảo - 30.09.2010 14:23]


Đăng nhập
Bí danh
Mật khẩu
Ghi nhớ
Tin mới
GẶP MẶT TRUYỀN THỐNG
Bài thơ : Hẹn một ngày trở lại Phú quốc ơi
Tìm mộ liệt sĩ
Tìm mộ liệt sỹ
Tâm tình của một tác giả
Doanh nghiệp đầu tư hàng trăm tỷ đồng cải tạo hồ
Các chiến sĩ cách mạng mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ kế tiếp noi theo
Người lưu giữ ký ức chiến tranh
Có một Bảo tàng chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày
Tổng Bí thư gặp mặt các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày
[Những bản tin khác]
Quảng cáo
Hình ngẫu nhiên

Lế khánh thành Đài Chiến thắng
Bình chọn
Người cao tuổi cần làm gì để gìn giữ sức khỏe tốt hơn?
Tập thể thao thường xuyên
Chế độ ăn ngủ điều độ
Không nên tham gia những công việc đòi hỏi nhiều sức lực
Uống nhiều thuốc bổ
Tất cả ý kiến trên

Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Copyright ©2006 www.dongdoi.com.vn